
Sau khi Luật Đầu tư công số 58 năm 2024 được ban hành, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 57 đòi hỏi cần sửa đổi Luật Đầu tư công theo hướng tiếp tục phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đặc biệt là các dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có yêu cầu cần thực hiện nhanh.
Trong thời gian qua đã phát sinh một số dự án đầu tư công đặc thù có yêu cầu áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới chưa được thực hiện tại nước ta, có tổng mức đầu tư lớn, đòi hỏi phải có một cơ chế, chính sách đặc thù để phê duyệt dự án và triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, phần lớn các dự án đầu tư công đều gắn với công nghệ ở một mức độ nhất định. Khoa học – Công nghệ, đổi mới sáng tạo hiện nay đang tiến bộ rất nhanh, vòng đời công nghệ ngày càng ngắn lại. Điều này đòi hỏi các dự án đầu tư công phải triển khai và hoàn thành nhanh, tránh trường hợp dự án chưa hoàn thành đã lạc hậu về công nghệ. Việc thực hiện dự án đặc biệt thúc đẩy tăng trưởng, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 2 con số cũng đặt ra yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, phân cấp, phân quyền được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật.
1/ Làm rõ phạm vi điều chỉnh, bổ sung khái niệm mới
Điểm mới đáng chú ý là bổ sung ngoại lệ: nhiệm vụ, dự án do tổ chức/cá nhân tài trợ hợp pháp và yêu cầu không đưa vào ngân sách nhà nước thì không phải thực hiện theo Luật Đầu tư công. Quy định này được thêm sau khoản 4 Điều 3 của Luật 2024, nhằm giảm “vướng” thủ tục đầu tư công với các khoản tài trợ không qua ngân sách.
Luật Đầu tư công sửa đổi năm 2025 cũng bổ sung định nghĩa “dự án đầu tư công đặc biệt” – là dự án thực hiện theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng uỷ Chính phủ. Đây là một loại việc mới, tạo cơ sở pháp lý cho cơ chế tổ chức thực hiện riêng đối với các dự án có tính chất đặc thù về chính trị – chiến lược.
Ngoài ra, danh mục lĩnh vực đầu tư công ở điểm b khoản 5 Điều 9 được mở rộng để phù hợp bối cảnh chuyển đổi số: bổ sung khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, môi trường, công nghệ số, phát thanh – truyền hình, tài chính, ngân hàng. So với Luật 2024, phạm vi này rộng hơn, tạo cơ sở sắp xếp vốn cho các chương trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo.
So với Luật 2024: Luật hiện hành chưa có định nghĩa “dự án đầu tư công đặc biệt” và chưa tách bạch rõ ngoại lệ đối với khoản tài trợ không vào NSNN; danh mục lĩnh vực cũng ít cụ thể về công nghệ số.
2/ Điều chỉnh mạnh về thẩm quyền và quy trình quyết định chủ trương/đầu tư
2.1. Quyết định chủ trương đầu tư – phân cấp, phân rõ
Thủ tướng Chính phủ được bổ sung thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư với một số dự án được dẫn chiếu từ điểm a khoản 2 Điều 8 của Luật 2024 (điểm mới tại khoản 3 Điều 18).
Người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương quyết định chủ trương đầu tư chương trình sử dụng vốn ODA, vay ưu đãi và các dự án nhóm A, B, C thuộc phạm vi quản lý (sửa khoản 4 Điều 18; đồng bộ với Điều 26 về trình tự, thủ tục). Đây là bước đẩy mạnh phân cấp cho bộ/ngành chủ quản.
UBND cấp tỉnh được bổ sung, làm rõ thẩm quyền quyết định chủ trương đối với dự án thực hiện trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên (Điều 31), đồng thời điều chỉnh hàng loạt điều khoản liên quan đến thẩm quyền của HĐND, UBND trong lập – thẩm định – quyết định chương trình/dự án.
Ở cấp thực thi, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn rõ hơn (bổ sung khoản 7 Điều 89): quyết định đầu tư theo thẩm quyền; ủy quyền cho cấp phó/Chủ tịch UBND cấp xã hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn quyết định đầu tư với dự án nhóm B, C; hoặc giao UBND cấp xã làm cơ quan chủ quản khi dự án trải trên từ 02 xã trở lên.
So với Luật 2024: Thẩm quyền giữa Thủ tướng – bộ/ngành – địa phương được phân rạch ròi, mở rộng ủy quyền; quy trình lập – thẩm định – quyết định ở các điều 26, 28, 31, 40, 41, 43 đều được sửa để rút ngắn, đồng bộ (ví dụ: thành lập hội đồng thẩm định có thể thực hiện song song với quá trình lập báo cáo đề xuất).
2.2. Bổ sung “đường đi riêng” cho dự án đặc biệt
Luật mới thêm Điều 45a: trình tự, thủ tục quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư công đặc biệt. Chủ đầu tư được quyết định toàn bộ công việc từ lập – thẩm định – phê duyệt theo cơ chế linh hoạt (thiết kế – thi công rút gọn; áp định mức chi phí riêng do bộ/ngành ban hành…). Đây là cơ chế điều hành đặc thù nhằm bảo đảm tiến độ – chất lượng cho các dự án thuộc chỉ đạo cấp cao.
2.3. Chỉnh điều kiện điều chỉnh chủ trương đầu tư
Bổ sung khoản 5 Điều 46: nếu chương trình/dự án thay đổi mục tiêu, địa điểm, vượt mức vốn đầu tư công so với thẩm quyền đã được cấp thì phải thực hiện lại trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư trước khi cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh. Quy định này siết chặt kỷ luật trong quá trình “đổi hướng” dự án.
3/ Kế hoạch trung hạn – hằng năm: rõ hơn trách nhiệm, “khoá chặt” kỷ luật vốn
3.1. Tổ chức kế hoạch đầu tư công trung hạn/hằng năm
Điều 54 được bổ sung để phân loại rõ đối tượng: kế hoạch đầu tư công trung hạn bao gồm dự án công đặc biệt, dự án khẩn cấp (trước đây quy định chưa tách bạch)
Điều 56 điều chỉnh: chương trình, dự án, nhiệm vụ và đối tượng đầu tư công phải có trong kế hoạch trung hạn, trừ dự án khẩn cấp, dự án đặc biệt, hoặc dự án ODA không hoàn lại – giúp tránh “lách” đưa mới ngoài kế hoạch.
Điều 59 thay đổi mạnh: Bỏ một số khoản (1, 3, 5) để tinh gọn thủ tục; Khoản 7 xác định tổng mức vốn trung hạn của từng bộ/ngành và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho địa phương; Khoản 8 giao Thủ tướng phân bổ kế hoạch trung hạn cho bộ/ngành, địa phương; Khoản 9 quy định rất chi tiết trình tự giao kế hoạch vốn trung hạn vốn ngân sách địa phương (HĐND quyết nghị, UBND giao và báo cáo Bộ Tài chính tổng hợp).
Điều 68: quy định căn cứ giao kế hoạch cho cấp có thẩm quyền đến tận đơn vị sử dụng vốn, bảo đảm minh bạch và khả thi trong điều hành kế hoạch hàng năm.
3.2. Linh hoạt thời hạn thực hiện – giải ngân nhưng giữ nguyên “trần”
Điều 72 sửa theo hướng: thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn hàng năm đến 31/01 năm sau; riêng trường hợp được bổ sung vốn sau 30/9 thì đến 31/12 năm sau.
Đồng thời liệt kê rõ các tình huống được phép kéo dài thời gian (dự án quan trọng quốc gia; bồi thường – hỗ trợ – tái định cư; bổ sung kế hoạch vốn để hoàn thành; dự án bị thiên tai, dịch bệnh; dự án cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; v.v.). Quy định này hợp thức hoá thực tiễn nhưng kèm yêu cầu báo cáo – giải trình chặt chẽ.
Điều 71 về điều chỉnh kế hoạch hàng năm cũng được tinh gọn: Chính phủ, Thủ tướng được quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công khi không vượt tổng chi/tổng mức vốn do Quốc hội quyết định; cấp quản lý trực tiếp (bộ/ngành, địa phương) được quyết định điều chỉnh trong phạm vi không làm thay đổi tổng mức vốn trung hạn/hàng năm đã được cấp thẩm quyền giao.
So với Luật 2024: Các mốc thời gian – thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch rõ hơn, ấn định đầu mối báo cáo – tổng hợp (đặc biệt với vốn ngân sách địa phương) và tăng tự chủ cho cấp quản lý trực tiếp, thay vì “dồn lên” trung ương như trước.
4/ Quy định kỹ thuật quy trình: lập, thẩm định, quyết định đầu tư đồng bộ – song song
Các Điều 40, 41, 43 được viết lại theo một khuôn mẫu: Chủ chương trình/dự án giao cơ quan chuyên môn hoặc đơn vị trực thuộc lập báo cáo nghiên cứu; Thành lập Hội đồng thẩm định (hoặc giao đơn vị có chức năng thẩm định); Chỉ đạo hoàn chỉnh hồ sơ theo ý kiến thẩm định; Người đứng đầu bộ/ngành/địa phương ra quyết định đầu tư.
Cách thiết kế này cho phép tổ chức các bước song song, giảm thời gian luân chuyển hồ sơ.
Điều 26 và Điều 28 cũng được sửa – bổ sung để làm rõ trình tự, thủ tục quyết định chủ trương với chương trình ODA, vay ưu đãi và dự án thuộc thẩm quyền UBND các cấp, bảo đảm thống nhất logic với các điều về quyết định đầu tư.
Điều 46 (5): nếu thay đổi mục tiêu, địa điểm, vượt mức vốn thì phải quay lại bước điều chỉnh chủ trương trước khi điều chỉnh quyết định đầu tư – một “nút chặn” mới nhằm ngăn trượt mục tiêu – đội vốn.
5/ Rõ trách nhiệm người đứng đầu; bổ sung nhiệm vụ cho Bộ Tài chính
Điều 100 (bổ sung): Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trung ương; Chủ tịch UBND chịu trách nhiệm về hậu quả nếu không tổ chức theo dõi, đánh giá, kiểm tra kế hoạch/chương trình/dự án hoặc không báo cáo theo quy định. Đây là điểm siết kỷ luật hành chính đối với “khâu cuối” – tổ chức thực hiện.
Điều 83, 84, 85 được sửa/bổ sung, trong đó Điều 85 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính: ban hành/quy trình ban hành văn bản về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ và sử dụng vốn đầu tư công; tổng hợp trình Chính phủ/Thủ tướng phương án kế hoạch trung hạn và hằng năm; điều chỉnh kế hoạch trong phạm vi thẩm quyền; chủ trì đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn; và ban hành/quản lý quy định chung về quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia.
So với Luật 2024: Vai trò “nhạc trưởng” của Bộ Tài chính trong cân đối – điều hành vốn được nâng lên rõ rệt.
6/ Một số điểm tinh gọn, bãi bỏ để giảm thủ tục
Luật 2025 bãi bỏ hoặc sửa nhiều khoản tại Điều 18, 37, 38, 59, 71, 83, 84, 89… nhằm loại bỏ khâu trung gian, chồng chéo, ví dụ: bỏ một số khoản tại Điều 59 (quy trình lập – giao kế hoạch), bỏ khoản 8 Điều 83, bỏ khoản 4, 5 Điều 84, bỏ các điểm quy định đã được thay thế bằng cơ chế phân quyền/ủy quyền mới. Tinh thần chung là giao quyền đi kèm trách nhiệm giải trình, thay vì “xin – cho” nhiều tầng nấc.
Thay đổi của Luật 2025 định hướng hai mục tiêu cùng lúc: đẩy nhanh tiến độ (rút gọn – phân cấp – song song hoá quy trình), và nâng kỷ luật – trách nhiệm (siết điều chỉnh chủ trương, chốt mốc kế hoạch/giải ngân, quy trách nhiệm người đứng đầu). Nhóm quy định về dự án đặc biệt và mở rộng lĩnh vực đầu tư (khoa học – công nghệ – số hoá) đáp ứng yêu cầu đầu tư công dẫn dắt tăng trưởng trong giai đoạn chuyển đổi số, đồng thời cơ chế kế hoạch – điều chỉnh mới giúp giảm “đọng vốn” và linh hoạt xử lý biến động (thiên tai, dịch bệnh, bồi thường – GPMB…).
Tuy vậy, hiệu quả thực thi phụ thuộc năng lực thẩm định – điều hành tại bộ/ngành, địa phương. Cơ chế ủy quyền sâu đi kèm yêu cầu minh bạch, công khai tiêu chí và tăng cường kiểm tra – giám sát để tránh rủi ro “xé rào” tiêu chuẩn hoặc dàn trải vốn.
Luật số 90/2025/QH15 đã điều chỉnh có mục tiêu Luật Đầu tư công 2024: rõ phạm vi – mở phân cấp – siết kỷ luật kế hoạch – giải ngân, đồng thời tạo cơ chế đặc thù cho các dự án chiến lược. Với khung mới này, nếu các bộ, ngành, địa phương tổ chức lại quy trình nội bộ, nâng chất lượng chuẩn bị dự án và tuân thủ cửa ngõ “chủ trương” khi có thay đổi lớn, dòng vốn đầu tư công kỳ vọng giải ngân nhanh hơn, trúng đích hơn – góp phần thúc đẩy tăng trưởng, hạ tầng và chuyển đổi số quốc gia./.