Đang xử lý.....

Những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng trong Nghị định 275/2025/NĐ-CP so với Nghị định 85/2025/NĐ-CP  

Thứ Hai, 20/10/2025, 00:00 (GMT+7) 33
|
Quy trình quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin
Quy trình quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin

 

Mở đầu:

Ngày 18/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 275/2025/NĐ-CP nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2025/NĐ-CP (văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư công). Việc ban hành Nghị định 275/2025/NĐ-CP nhằm kịp thời điều chỉnh các bất cập, hoàn thiện cơ chế thực thi sau khi Luật Đầu tư công và một số luật liên quan được sửa đổi, đồng thời cụ thể hoá một số vấn đề lớn phát sinh trong thực tiễn quản lý đầu tư công.

Bài viết tổng hợp những điểm sửa đổi, bổ sung của Nghị định 275/2025/NĐ-CP có tác động tới các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số sử dụng ngân sách nhà nước.

Nội dung.

1. Điều chỉnh hạn mức thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn

Nghị định 275/2025/NĐ-CP bổ sung, làm rõ hạn mức về thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn cho các dự án lớn, cũng như quy định thời điểm, phương thức thẩm định phù hợp với thực tế biến động ngân sách, trái phiếu chính phủ, vay vốn và đối ứng. Những quy định này nhằm đảm bảo khi quyết định đầu tư, cơ quan có thẩm quyền xác định được nguồn tài chính bền vững cho dự án trước khi đưa ra chủ trương hay quyết định đầu tư.

Trong Nghị định 85/2025/NĐ-CP, quy định về thẩm định nguồn vốn có khuôn khổ chung nhưng thiếu chi tiết áp dụng với một số loại dự án (như dự án có vốn lớn, kéo dài nhiều năm hoặc có yếu tố tài trợ nước ngoài). Nghị định 275/2025/NĐ-CP bổ sung thang hạn mức, tiêu chí và lộ trình áp dụng cho các năm lập kế hoạch cụ thể (ví dụ: quy định áp dụng cho kế hoạch 2026 trở đi tại một số khoản).

2. Sửa đổi, làm rõ trình tự, thủ tục điều chỉnh kế hoạch đầu tư công hàng năm

Nghị định 275 quy định rõ hơn về thủ tục điều chỉnh kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước, đặc biệt đối với giai đoạn chuyển tiếp 2025–2026. Một số quy định liên quan đến thời điểm, thẩm quyền quyết định điều chỉnh và điều kiện để điều chỉnh vốn/dự án được nêu cụ thể (ví dụ: quy định điều chỉnh kế hoạch năm 2025 thực hiện theo hướng dẫn tạm thời, trong khi một số điều khoản chính thức có hiệu lực từ kế hoạch 2026 trở đi). Điều này giúp hạn chế lúng túng trong điều hành ngân sách và việc phân bổ lại vốn giữa các dự án trong bối cảnh nguồn lực hạn chế.

3. Làm rõ phân cấp, thẩm quyền quyết định tương thích với Luật Tổ chức Chính phủ sửa đổi

Do Luật Tổ chức Chính phủ (và một số luật khác) có sửa đổi, Nghị định 275/2025/NĐ-CP điều chỉnh những quy định liên quan đến phân cấp thẩm quyền: ai là người quyết định chủ trương, ai là người phê duyệt quyết định đầu tư, trách nhiệm phối hợp giữa trung ương–địa phương và trách nhiệm quản lý chuyên ngành. Mục tiêu là đảm bảo nghị định hướng dẫn phù hợp với cơ cấu tổ chức, trách nhiệm mới của các bộ, ngành, địa phương.

4. Tăng cường yêu cầu về giám sát, đánh giá, kiểm soát sau phê duyệt

Nghị định 275/2025/NĐ-CP bổ sung các quy định nhấn mạnh giám sát, kiểm soát chất lượng, tiến độ và giải ngân sau khi quyết định đầu tư được phê duyệt — bao gồm trách nhiệm báo cáo tiến độ, cơ chế xử lý khi dự án chậm tiến độ hoặc vượt chi phí, cũng như trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan tài chính và cơ quan quản lý dự án. Những cải thiện này nhằm tăng tính minh bạch và hiệu quả sử dụng vốn công.

Vai trò của Bộ Khoa học và Công nghệ trong giám sát, kiểm soát quản lý vốn cho các dự án, chương trình đầu tư lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cũng đã được quy định rõ ràng. Đối với các dự án đầu tư ứng dụng CNTT, chuyển đổi số của các bộ, ngành: Trường hợp điều chỉnh giảm kế hoạch đầu tư công hằng năm bố trí cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thấp hơn so với kế hoạch vốn ngân sách trung ương tối thiểu bố trí cho lĩnh vực này tại quyết định giao kế hoạch vốn hằng năm của Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan trung ương báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ cho ý kiến trước khi điều chỉnh. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm cho ý kiến trong 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề xuất của bộ, cơ quan trung ương.

Đối với các dự án đầu tư ứng dụng CNTT, chuyển đổi số của địa phương: Trường hợp điều chỉnh giảm kế hoạch đầu tư công hằng năm bố trí cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thấp hơn so với kế hoạch vốn ngân sách trung ương tối thiểu bố trí cho lĩnh vực này tại quyết định giao kế hoạch vốn hằng năm của Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ cho ý kiến trước khi điều chỉnh. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm cho ý kiến trong 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề xuất của địa phương.

Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, rà soát việc lập nhu cầu, dự kiến bố trí vốn, giao, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công hằng năm của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cho chương trình, nhiệm vụ, dự án thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định tại Nghị định này.

5. Những quy định sửa đổi, bổ sung liên quan đến dự án chuyển đổi số

Thứ nhất, Quy định bắt buộc lấy ý kiến Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) khi lập phương án, phân bổ vốn cho chương trình, dự án thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Khi tổng hợp nhu cầu bố trí vốn ngân sách trung ương cho các chương trình, nhiệm vụ, dự án thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bộ, cơ quan trung ương (khi là cơ quan chủ quản) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (khi liên quan) có trách nhiệm lấy ý kiến Bộ Khoa học và Công nghệ để hoàn thiện phương án phân bổ vốn trước khi gửi Bộ Tài chính.

Bộ KHCN có trách nhiệm cho ý kiến trong vòng 07 đến 10 ngày làm việc tùy từng trình tự và phạm vi.

Việc bắt buộc lấy ý kiến Bộ KH&CN coi chuyển đổi số là lĩnh vực cần đánh giá chuyên môn (công nghệ, tính khả thi kỹ thuật, tương thích quốc gia...), giúp nâng chất lượng hồ sơ phân bổ vốn và đảm bảo tính khả thi về mặt công nghệ trước khi giao vốn ngân sách trung ương.

Với quy định mới này, các chủ đầu tư/đề xuất dự án cần chuẩn bị kỹ phần đánh giá công nghệ, yêu cầu kỹ thuật, khung tích hợp với hạ tầng dữ liệu nhà nước để Bộ KH&CN có thể cho ý kiến nhanh, tránh phải hoàn chỉnh nhiều lần. Lưu ý chuẩn bị hồ sơ theo đúng quy định và thời hạn nêu trong Nghị định để không làm chậm tiến độ tổng hợp kế hoạch đầu tư công.

Thứ hai, Quy định cụ thể cho việc tổng hợp, lập kế hoạch đầu tư công trung hạn đối với chương trình/dự án thuộc lĩnh vực chuyển đổi số

Nghị định sửa, bổ sung Điều 43 (về lập, phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn) để làm rõ trình tự tổng hợp nhu cầu, phân loại theo nguồn vốn, mức vốn cho từng chương trình/nhiệm vụ/dự án, và đặc biệt nêu trách nhiệm phải lấy ý kiến Bộ KH&CN đối với các chương trình/nhiệm vụ/dự án thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trước khi gửi Bộ Tài chính.

Quy định này đã quy phạm hóa chuyển đổi số không còn là “dự án bình thường” trong danh mục đầu tư công: những dự án này phải qua bước thẩm định chuyên môn (Bộ KH&CN) trước khi xin bố trí vốn trung ương; điều này giúp giảm rủi ro phân bổ vốn cho các giải pháp công nghệ không phù hợp hoặc kém tương thích.

Khi lập kế hoạch trung hạn (ví dụ 5 năm), đơn vị chủ quản cần sớm phối hợp với Bộ KH&CN để lấy ý kiến, tránh gửi hồ sơ thiếu chuyên môn và bị trả lại. Lên kế hoạch ngân sách nên tính thêm thời gian cho bước lấy ý kiến (7–10 ngày làm việc theo Nghị định).

Thứ ba, Làm rõ tiêu chí “phù hợp nguồn vốn và khả năng cân đối vốn” áp dụng cho dự án có yếu tố chuyển đổi số

Nghị định bổ sung, làm rõ các tiêu chí đánh giá sự phù hợp giữa nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cho chương trình, dự án (trong đó có chương trình/dự án chuyển đổi số): đánh giá nguồn vốn, phương án bố trí vốn (nguồn trung ương, địa phương, vốn vay/bên ngoài), khả năng thu hồi/đối ứng khi có vốn vay… nhằm bảo đảm không giao vốn cho dự án khi chưa có phương án tài chính bền vững.

Nhiều dự án chuyển đổi số đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn và chi phí vận hành, bảo trì, nâng cấp sau đầu tư; quy định mới yêu cầu đánh giá chặt chẽ tính bền vững tài chính trước khi phê duyệt.

Do đó, hồ sơ dự án chuyển đổi số cần lưu ý mô tả rõ nguồn vốn đầu tư ban đầu, chi phí vận hành dài hạn, phương án bảo trì, cơ chế tài chính để duy trì dịch vụ số (ví dụ nguồn thu dịch vụ, hợp tác công-tư, vốn đối ứng) để thẩm định nguồn vốn thuận lợi.

Kết luận:

Nghị định 275/2025/NĐ-CP đã nâng mức bắt buộc thẩm định chuyên môn cho chương trình/dự án chuyển đổi số (bằng việc buộc lấy ý kiến Bộ KH&CN và làm rõ vai trò của Bộ này trong lập, tổng hợp, phân bổ vốn trung ương) và thắt chặt yêu cầu về đánh giá nguồn vốn, giám sát, và lộ trình áp dụng. Về thực tế, điều này đòi hỏi chủ đầu tư và cơ quan chủ quản phải chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật-công nghệ và phương án tài chính kỹ lưỡng hơn, chủ động lấy ý kiến Bộ KH&CN và xây dựng cơ chế giám sát nghiệm thu phù hợp cho các dự án số.