Đang xử lý.....

Danh sách hỏi đáp

6 Câu hỏi tìm thấy
Nội dung
Trả lời

Nghị định số 82/2024/NĐ-CP bổ sung quy định phải thuyết minh lựa chọn hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin hoặc đầu tư, mua sắm cơ sở để cấp có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm.

 

 

Như vậy, việc thuyết minh lựa chọn hình thức nêu trên được thực hiện trước khi quyết định thuê dịch vụ công nghệ thông tin. Việc thuyết minh có thể thực hiện trước hoặc lồng ghép cùng với hồ sơ thuyết minh, lập dự toán thuê dịch vụ công nghệ thông tin (đối với dịch vụ sẵn có trên thị trường), hồ sơ lập kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin (đối với dịch vụ không sẵn có trên thị trường).

Trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin là cấp có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ làm cơ sở lập dự toán, phân bổ kinh phí thì việc thuyết minh lựa chọn hình thức nêu trên có thể thực hiện lồng ghép tại bước phê duyệt nhiệm vụ, phân bổ kinh phí.

Đối với trường hợp hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông tin đã lập, trình thẩm định kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin nhưng chưa được phê duyệt thì hoạt động thuê dịch vụ đó phải thực hiện điều chỉnh theo những nội dung sửa đổi, bổ sung quy định tại Nghị định số 82/2024/NĐ-CP hiện hành, trong đó phải bổ sung thuyết minh lựa chọn hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin hoặc đầu tư, mua sắm làm cơ sở để cấp có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm quyết định thực hiện.

Open Người gửi: Cổng thông tin đầu tư ứng dụng CNTT Thuê dịch vụ công nghệ thông tin Thời gian gửi: 00:00 14/10/2024
Trả lời: 1 Lần xem: 80
Nội dung
Trả lời

Pháp luật về đấu thầu, quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin hiện hành không quy định về việc tiếp tục ký/gia hạn hợp đồng sau khi kết thúc thời gian thực hiện hợp đồng. Trường hợp, địa phương có nhu cầu tiếp tục thuê dịch vụ công nghệ thông tin đã được thuê trước đó (trước đó đã thuê dưới dạng dịch vụ công nghệ thông tin không sẵn có trên thị trường), thì địa phương triển khai theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 (dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có trên thị trường) hoặc khoản 3 Điều 51 (dịch vụ công nghệ thông tin không sẵn có trên thị trường) của Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP.

 

 

Dịch vụ công nghệ thông tin địa phương có nhu cầu thuê tiếp được xem là dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có trên thị trường khi đáp ứng đầy đủ quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, được sửa đổ bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP; cụ thể là dịch vụ được cung cấp ngay khi có nhu cầu và đã được mô tả chức năng, tính năng, thông số kỹ thuật, công nghệ trên cổng/trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng khác.

Open Người gửi: Cổng thông tin đầu tư ứng dụng CNTT Thuê dịch vụ công nghệ thông tin Thời gian gửi: 00:00 08/10/2024
Trả lời: 1 Lần xem: 78
Nội dung

Điểm b khoản 2 Điều 53 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP quy định: “b) Đầu mối thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch thuê lấy ý kiến của đơn vị có chuyên môn về công nghệ thông tin về sự phù hợp của nội dung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 54 Nghị định này;”

- “Đơn vị có chuyên môn về công nghệ thông tin” ở điểm này là đơn vị cấp nào? Đơn vị thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch thuê hay đơn vị thuộc cấp tỉnh? (đối với địa phương).

- "Ý kiến của đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin": Là dạng văn bản tham gia ý kiến; hay là báo cáo thẩm định?

Căn cứ điểm c 2 Điều 53 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP quy định: “Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách được giao nhiệm vụ thuê dịch vụ (sau đây gọi tắt là chủ trì thuê) thuê tổ chức, cá nhân có năng lực, kinh nghiệm để thẩm tra kế hoạch thuê, nội dung thẩm tra gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung quy định tại khoản 3 Điều 56 Nghị định này.” Được hiểu đối với kế hoạch thuê dịch vụ bắc buộc thực hiện thẩm tra trước khi thẩm định. Đề nghị Bộ TTTT hướng dẫn rõ quy định nội dung này để làm cơ sở cho các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện.

Trả lời

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP, không quy định cụ thể đơn vị có chuyên môn về công nghệ thông tin thuộc cấp nào. Như vậy, đối với trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định là UBND tỉnh thì đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin là Sở Thông tin và Truyền thông, đối với trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định là các sở, ban, ngành, UBND huyện, ... thì đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin là đơn vị trực thuộc cấp có thẩm quyền (ví dụ như phòng công nghệ thông tin, bộ phận tham mưu, thực hiện nhiệm vụ về chuyển đổi số, ...); trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định không có đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin trực thuộc, thì lấy ý kiến của Sở Thông tin và Truyền thông.

Hiện nay, quy định tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP chỉ có mẫu Báo cáo thẩm định kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin do đầu mối thẩm định thực hiện. Việc đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin có ý kiến được thực hiện dưới dạng báo cáo hoặc công văn tùy thuộc vào quy định, yêu cầu tại từng địa phương.

Quy định tại khoản 2 Điều 53 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP quy định là “Trường hợp đơn vị ...”; theo đó việc thẩm tra là không mang tính bắt buộc.

Open Người gửi: Cổng thông tin đầu tư ứng dụng CNTT Thuê dịch vụ công nghệ thông tin Thời gian gửi: 00:00 07/10/2024
Trả lời: 1 Lần xem: 62
Nội dung
Trả lời

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP thì không còn việc chủ trì thuê dịch vụ công nghệ thông tin tự quản trị, vận hành hệ thống do doanh nghiệp xây dựng, cung cấp dịch vụ cho thuê nữa.

Quản trị nội dung, dữ liệu là quản trị, vận hành nếu thuộc các nội dung quy định tại Phụ lục số 3A Thông tư số 24/2020/TT-BTTTT ngày 09/09/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về công tác triển khai, giám sát công tác triển khai và nghiệm thu dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Open Người gửi: Ngô Như An Thuê dịch vụ công nghệ thông tin Thời gian gửi: 08:43 15/09/2023
Trả lời: 1 Lần xem: 740
Nội dung
Tôi xin hỏi đáp vướng mắc liên quan đến thực hiện Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 5/9/2019 của Chính phủ như sau: 1. Theo quy định tại khoản 1, Điều 52 thì: Đối với hoạt động thuê dịch vụ CNTT sẵn có trên thị trường, thực hiện theo quy định của pháp luật về mua sắm tài sản, hàng hóa dịch vụ nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị. Như vậy đối với hoạt động thuê dịch vụ CNTT có sẵn trên thị trường sẽ không phải lập kế hoạch thuê dịch vụ. Hiện nay chúng tôi đang có nhu cầu thuê một số dịch vụ CNTT có sẵn trên thị trường như thuê kênh truyền, thuê thiết bị CNTT, thuê dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng thiết bị CNTT...Theo chúng tôi hiểu đây là các dịch vụ có sẵn, có nhiều nhà cung cấp sẵn sàng cung cấp ngay dịch vụ mà không phải thông qua đặt hàng để thiết kế, gia công, chế tạo sản xuất như quy định tại khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 73/2019/NĐ-CP. Tuy nhiên cũng tại Điều này lại quy đinh: Dịch vụ này phải được công khai về giá, mô tả chức năng, tính năng kỹ thuật, công nghệ trên cổng/trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân hoặc thông qua phương tiện khác được nhiều người tiếp cận. Ở đây đang có 2 cách hiểu khác nhau: Cách hiểu thứ nhất: Dịch vụ CNTT có sẵn trên thị trường là dịch vụ CNTT được cung cấp ngay khi có nhu cầu nhưng các thông tin về giá, mô tả chức năng, tính năng kỹ thuật, công nghệ phải được công khai trên cổng/trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân hoặc thông qua các phương tiện khác được nhiều người tiếp cận như: đài, báo... (theo cách hiểu này thì các thông tin về giá, chức năng, tính năng, công nghệ phải được công khai theo 2 hình thức: hoặc là trên cổng thông tin điện tử hoặc là trên đài báo). Nếu hiểu theo cách này thì rất ít dịch vụ có sẵn vì các nhà cung cấp dịch vụ không công khai về giá trên cổng thông tin điện tử hoặc trên đài báo mà chỉ cung cấp thông tin về giá thông qua hình thức báo giá, chào giá khi có yêu cầu. Cách hiểu thứ 2: Dịch vụ CNTT có sẵn trên thị trường là dịch vụ CNTT được cung cấp ngay khi có nhu cầu, các thông tin về giá, mô tả chức năng, tính năng, công nghệ...được nhà cung cấp sẵn sàng cung cấp một cách công khai trên công thông tin điện tử hoăc các phương tiện khác được nhiều người tiếp cận như đài, báo hoặc báo giá công khai gửi cho người có nhu cầu thuê dịch vụ. Nếu hiểu theo cách này thì có nhiều dịch vụ được cho là có sẵn trên thị trường. Vậy hiểu như thế nào cho đúng về định nghĩa dịch vụ CNTT sẵn có trên thị trường theo khoản 3 Điều 3 của Nghị định 73/2019/NĐ-CP. Rất mong nhận được hướng dẫn của Quý Bộ để chúng tôi thống nhất cách hiểu trong tổ chức triển khai nhiệm vụ./. 2. Người kiểm tra (CSGT) phải có giấy tờ gì mới được phép kiểm tra người tham gia giao thông? Phải xuất trình giấy tờ gì khi người tham gia giao thông yêu cầu xuất trình (tránh trường hợp CSGT giả)? Mức nếu CSGT vi phạm sẽ bị xử lý như thế nào ? (xin trích dẫn điều luật) 3. CSGT thông mặc quân phục nhưng không đeo quân hàm, huy hiệu đứng đường sẽ bị xử lý như thế nào? Có được phép bắt người tham gia giao thông không ? (xin trích dẫn điều luật) 4. Mong nhận được câu trả lời sớm nhất
Trả lời

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP, dịch vụ CNTT là dịch vụ CNTT sẵn có trên thị trường khi đáp ứng đủ 02 điều kiện sau:

  1. được cung cấp ngay khi có nhu cầu mà không phải thông qua đặt hàng để thiết kế, gia công, chế tạo, sản xuất;
  2. đã được công khai về giá, mô tả chức năng, tính năng kỹ thuật, công nghệ trên cổng/trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân hoặc thông qua phương tiện khác được nhiều người tiếp cận.

Với điều kiện thứ (2), giá, mô tả chức năng, tính năng kỹ thuật, công nghệ của dịch vụ CNTT phải được công khai trên một trong các phương tiện:

  • cổng/ trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc cổng/trang thông tin điện tử hợp pháp khác;
  • phương tiện khác được nhiều người tiếp cận (như báo chí; các ấn phẩm quảng cáo; các tài liệu được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được).

Như vậy, ‘báo giá công khai gửi cho người có nhu cầu thuê dịch vụ’ trong câu hỏi của ông An được xem là phương tiện được nhiều người tiếp cận nếu các báo giá này được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được.

Open Người gửi: Đỗ Trung Thành Thuê dịch vụ công nghệ thông tin Thời gian gửi: 08:42 15/09/2023
Trả lời: 1 Lần xem: 759
Nội dung
Trả lời

1. Việc gia hạn hợp đồng

Hiện nay, việc gia hạn hợp đồng thuê dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước có thể được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 17/2019/QĐ-TTg ngày 08/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 26 Luật Đấu thầu, cụ thể:

- Khoản 20 Điều 3 quy định trường hợp: “Lựa chọn nhà thầu để cung cấp một số dịch vụ cần cam kết lâu dài với nhà cung cấp (nhiều hơn 1 năm) như: dịch vụ thuê đường truyền, nhà trạm; thuê hạ tầng kỹ thuật; thuê phần mềm; thuê tên miền, máy chủ và dịch vụ lưu trữ dữ liệu điện tử; dịch vụ hỗ trợ bảo hành, vận hành hệ thống phần cứng, phần mềm, dịch vụ hỗ trợ người dùng (call center)....”.

- Khoản 8 Điều 4 quy định: “Trường hợp việc lựa chọn nhà thầu cung cấp các dịch vụ nói trên đã được thực hiện theo hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, khi kết thúc thời hạn thực hiện hợp đồng, bên mời thầu có thể đàm phán để ký tiếp hợp đồng cung cấp dịch vụ trên cơ sở bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả kinh tế. Thời gian thực hiện hợp đồng (bao gồm cả thời gian thực hiện gói thầu cũ và thời gian gia hạn, nếu có) không được quá 05 năm”.

Như vậy, nếu gói thầu của cơ quan Quý độc giả là gói thầu thuê dịch vụ CNTT sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 20 Điều 3 Quyết định 17/2019/QĐ-TTg nêu trên thì có thể xem xét đàm phán để ký tiếp hợp đồng cung cấp dịch vụ theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Quyết định 17/2019/QĐ-TTg.

2. Triển khai thuê dịch vụ CNTT theo quy định tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP

Trường hợp gói thầu của Quý độc giả không đáp ứng về quy định, điều kiện gia hạn nêu tại mục 1 trên thì việc triển khai hoạt động thuê dịch vụ CNTT tiếp theo được thực hiện theo quy định tại Điều 52 Nghị định 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ quy định quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, việc lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

Do Quý độc giả không cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động thuê dịch vụ CNTT của cơ quan Quý độc giả nên Bộ TTTT không thể có hướng dẫn cụ thể hơn đối với trường hợp của Quý độc giả.