Đang xử lý.....

Nghị quyết 04/2025/NQ-CP – “Cú húych” thúc đẩy triển khai dự án CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước  

Ngày 20/8/2025, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị quyết số 04/2025/NQ-CP với mục tiêu trọng tâm là tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai các dự án và nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả kinh phí chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên).
Thứ Năm, 21/08/2025, 11:41 (GMT+7) 205
|

Nghị quyết này quy định tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai các dự án, nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước (kinh phí chi đầu tư phát triển và kinh phí chi thường xuyên), bao gồm:

- Quy trình thực hiện dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin;

- Tổng mức đầu tư, dự toán dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin;

- Quy trình thực hiện hoạt động mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin.

Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến việc thực hiện dự án, nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

 

Đơn giản hóa thủ tục và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

Quy trình thực hiện dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin đã được quy định tại Luật Đầu tư công, Nghị định số 73/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP) gồm các quy định: quy trình, nội dung, hồ sơ, thời gian, thẩm quyền lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư (quy định tại Luật Đầu tư công); quy trình lập, thẩm định, quyết định dự án (quy định tại Luật Đầu tư công); các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và các công việc trong giai đoạn kết thúc đầu tư.

Tuy nhiên, chưa có quy định rõ về một số nội dung, quy trình, thủ tục của dự án chưa tối ưu, còn nhiều bước thủ tục:

 

Nghị quyết 04/2025/NQ-CP đã quy định rõ:

(1) Các trường hợp thiết kế 01 bước gồm:

+ Dự án sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước để mua dự phòng, thay thế, bổ sung các thiết bị phần cứng, phần mềm thương mại thuộc hệ thống thông tin hiện có; mua thiết bị không cần lắp đặt; mua phần mềm thương mại; mua thiết bị phần cứng riêng lẻ; mua thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu không thuộc hoạt động quy định tại khoản 24 Điều 3 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP) .

+ Dự án sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển hoặc kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu quy định tại khoản 24 Điều 3 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP) có tổng mức đầu tư không quá 20 tỷ đồng;

Nghị quyết cũng có cơ chế linh hoạt để tăng tính chủ động, trao quyền cho chủ đầu tư và người có thẩm quyền nếu dự án không thuộc các trường hợp nêu trên nhưng nếu chủ đầu tư xét thấy có thể thiết kế 01 bước thì báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép thực hiện thiết kế 01 bước.

(2) Quy định các trường hợp thiết kế 02 bước gồm: Các dự án còn lại và dự án thuộc quy định thiết kế 01 bước nhưng cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư yêu cầu thực hiện thiết kế 02 bước để phù hợp với tình hình triển khai thực tế của dự án và năng lực của chủ đầu tư.

(3) Quy định về thẩm quyền thẩm định dự án đồng bộ với pháp luật đầu tư công và pháp luật ngân sách:

Thẩm quyền thẩm định dự án (đầu mối thẩm định) đối với dự án sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước thì thẩm quyền thẩm định dự án thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công.

Thẩm quyền thẩm định dự án (đầu mối thẩm định) đối với dự án sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước thì cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, mua sắm thành lập Hội đồng thẩm định hoặc giao cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức thẩm định dự án.

(4) Thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở (trường hợp thiết kế 02 bước), thiết kế chi tiết (trường hợp thiết kế 01 bước) đẩy mạnh phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương theo nguyên tắc “bộ, ngành, địa phương tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm”:

+ Bỏ quy định Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định thiết kế cơ sở/thiết kế chi tiết dự án nhóm A của các bộ, ngành, địa phương để cắt giảm thủ tục, phân định rõ thẩm quyền cho các bộ, ngành, địa phương trong việc lập, thẩm định, quyết định dự án theo đúng chủ trương của Đảng, Chính phủ về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.

+ Đối với dự án tại các bộ, ngành, cơ quan trung ương, đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin trực thuộc cấp có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế chi tiết;

+ Đối với dự án tại địa phương, đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế chi tiết dự án thuộc thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm theo quy định tại địa phương.

(5) Thời gian thẩm định, phê duyệt dự án được quy định rõ số ngày tối đa để các cơ quan, đơn vị nghiêm chỉnh thực hiện, không kéo dài thời gian thẩm định, phê duyệt dự án.

(6) Quy định cho phép chủ đầu tư tự điều chỉnh, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh phương án công nghệ, kỹ thuật, thiết bị, thiết kế trong trường hợp không thay đổi mục tiêu, kết quả đầu ra của dự án và không làm vượt tổng mức đầu tư (trường hợp thiết kế 02 bước) hoặc dự toán (trường hợp thiết kế 01 bước) đã được phê duyệt để tăng tính chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện dự án và phù hợp với đặc thù của công nghệ thay đổi nhanh chóng.

(7) Một số quy định riêng đối với dự án đầu tư xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ hoặc dự án có hạng mục đầu tư xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ, trường hợp thực hiện thiết kế 02 bước: quy định một nhà thầu thực hiện thiết kế và triển khai tại giai đoạn thực hiện đầu tư, trình tự thực hiện như sau:

+ Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Chủ đầu tư tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, trong đó gồm Thiết kế cơ sở (thuê nhà thầu A).

+ Trong giai đoạn thực hiện đầu tư: Sau khi Báo cáo nghiên cứu khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ đầu tư thuê nhà thầu B triển khai tổ chức lập Thiết kế chi tiết và thực hiện (thi công).

+ Chủ đầu tư không phải tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế chi tiết do nhà thầu B lập, điều chỉnh, bổ sung.

+ Việc lập thiết kế chi tiết và triển khai được thực hiện đối với toàn bộ hoặc từng hạng mục công việc của dự án trên cơ sở thống nhất giữa chủ đầu tư và nhà thầu triển khai.

(8) Quy định áp dụng mẫu hồ sơ mời thầu:

+ Đối với gói thầu xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ: áp dụng theo mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa của pháp luật về đấu thầu.

+ Đối với gói thầu thiết kế và thực hiện công tác triển khai trong dự án có hạng mục xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ (thực hiện theo thiết kế 02 bước): áp dụng theo mẫu hồ sơ mời thầu gói thầu EP của pháp luật về đấu thầu.

 

Thay đổi trong các phương pháp xác định tổng mức đầu tư, dự toán để phù hợp với thị trường

Hiện nay, việc xác định tổng mức đầu tư và dự toán của dự án công nghệ thông tin được quy định tại Nghị định số 73/2029/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP) bao gồm nhiều phương pháp như: Phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp báo giá, hoặc kết hợp các phương pháp này, hoặc dựa trên chiến lược, quy hoạch đã duyệt.

Tuy nhiên, các cơ quan, chuyên gia đã chỉ ra vấn đề vướng mắc, khó khăn: phương pháp xác định các chi phí tư vấn đầu tư (lập dự án, lập thiết kế, lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, giám sát thực hiện, …) được xác định theo định mức chi phí tỷ lệ; phương pháp xác định chi phí phần mềm nội bộ được xác định theo phương pháp tính chi phí (use-case) chưa phù hợp với thị trường, định mức chi phí tư vấn thấp, chi phí phần mềm theo phương pháp use-case không còn phù hợp với sự phát triển của công nghệ hiện nay.

Nghị quyết đã quy định việc xác định tổng mức đầu tư dự án cơ bản áp dụng 01 phương pháp là theo báo giá thị trường (bao gồm xác định chi phí phần mềm nội bộ); việc xác định dự toán chi phí tư vấn đầu tư theo man-month, man-day hoặc theo báo giá thị trường.

 

Sửa đổi quy định để các hoạt động sử dụng kinh phí chi thường xuyên được triển khai nhanh chóng hơn, kịp tiến độ được giao và đáp ứng sự thay đổi của quy trình nghiệp vụ.

Quy định các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước không phải lập dự án, không phải lập kế hoạch thuê dịch vụ CNTT, ngoài các hoạt động theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Nghị định số 73/2019/NĐ-CĐ, còn bao gồm thêm:

- Hoạt động nâng cấp, mở rộng hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước cần thực hiện ngay do quy trình nghiệp vụ thay đổi theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật;

- Hoạt động xây dựng, nâng cấp, mở rộng hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ có yêu cầu cấp bách phải thực hiện ngay theo chỉ đạo tại Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị, văn bản thông báo ý kiến của lãnh đạo Chính phủ mà nếu áp dụng quy định tại Điều 51a hoặc khoản 2 Điều 52 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP) thì không bảo đảm hoàn thành tiến độ.

Người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về việc áp dụng không phải lập dự án, không phải lập kế hoạch thuê dịch vụ theo yêu cầu riêng đối với các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin quy định tại điểm này. Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, giám sát đơn vị sử dụng ngân sách trong việc triển khai nhiệm vụ bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, phòng ngừa xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực. Đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm đúng mục đích, chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Đối với hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông tin, bãi bỏ quy định phải thực hiện thuyết minh lựa chọn hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin hoặc đầu tư, mua sắm trước khi triển khai thuê dịch vụ công nghệ thông tin./.